Sức chịu tải của cọc bê tông là sức chịu tải nhỏ nhất theo khu đất nền (Pđn) và theo nguyên liệu (Pvl). Sức chịu tải theo khu đất nền là ưu thế chịu tải của sức kháng thành cộng thêm sức kháng mũi cọc. Sức chịu tải theo vật liệu là thế mạnh chịu tải của vật liệu làm cọc trong chu kỳ chịu lực và thi công, có xét tới những nguyên tố thay đổi tới uy tín chất lượng cọc (trong tiến trình thi công) và sự tác động của nền đất xung quanh cọc (làm tăng điểm mạnh ổn định của cọc).

Sức kháng đỡ của cọc bê tông có thể được ước tính bằng cách sử dụng nhiều phương pháp phân tích hay phương pháp thử nghiệm hiện trường. Trong suy tính, đất nền được phân thành 2 nhóm chính là đất dính (các dòng đất sét) và đất rời(các dòng đất đai, bùn ko dẻo).

Chú trọng quan tâm: cần xét tới ma sát âm (nếu có) lúc tính toán sức chịu tải cọc.

Quan hệ giữa Pvl và Pđn

Trong các tài liệu nền tảng thường nói rằng cần chọn Pđn ≈ Pvl thi càng hà tằn hà tiện với hoàn cảnh là Pđn ≤ Pvl

Nhưng lúc thiết kế đồ họa cọc đóng hoặc cọc ép thì sức chịu tải của cọc Pvl tính ra ngay phải nhiều hơn hàng loạt sức chịu tải của lô đất nền Pđn vì nhiều lí do sau :

Để cọc ko bị phá hoại khi bị máy đóng hoặc ép tác dụng vào nó.

Để cọc đủ cứng để thắng lại ma sát đất nền thì cọc mới đóng xuống đựơc.

Chịu trọng tải công trình truyền xuống

Ghi chú:

so với hoàn cảnh tình huống sau ta cần lưu tâm sức chịu tải của cọc sẽ có khả năng thấp hơn sức chịu tải của nền đất :

Cọc có khoan đẫn ( thông thường cũng ít diễn ra )

Lớp đất trên là bùn cực yếu , luôn phía dưới có lớp đất đá cực cứng , hoàn cảnh tình huống này cọc tựa thật sự trên đá . so với tình huống này nhất quyết phải có giải pháp sử lý sao cho cọc được ngàm vào lớp đất đá đó.

Nhiều phương pháp xác minh sức chịu tải đứng của cọc bê tông.

Trong lịch sử phát triển của ngành nền tảng đã đang có nhiều phương pháp được đề cập đến để xác minh sức chịu tải của cọc. tiếp sau đây là một đôi phương pháp:

Phương pháp lệ thuộc trên lý thuyết cân bằng limited.

Phương pháp này tìm mối liên hệ giữa Qp và Qf với thuộc tính của đất nền (c,φ) theo lý thuyết thăng bằng giới hạn (vật liệu rời) với mô hình Colomb

Bước 1. giả định hình dáng những mặt trượt do cắt tại lô đất nền khi nền bị phá hoại.

Bước 02. phân tách lực tại trạng thái cân bằng cực hạn (tức là ở thời khắc phá hoại)

Bước ba. dựa trên trên điều kiện cân bằng lực để tính ra sức chịu tải cực hạn.

Có nhiều quan điểm trái ngược về giả thiết mặt trượt:

– Giả định mặt trượt lộ diện luôn ở mũi cọc bê tông, giống sức chịu tải móng nông: Prandtl, Reisner, Caquot, Buisman,

– Giả định mặt trượt mở thêm lên trên: Terzaghi, Debeer, Jaky, Meyerhof

– Giả thiết mặt trượt mở rộng xuống dưới: Berezantzev, Yaroshenko, Vesic

– Giả thiết mặt trượt dạng xuyên thủng cắt:Vesic, Kishida, Takano

Nhược điểm: không chính xác, thường chỉ chính xác với đất rời. Ít được dùng.

Phương pháp phụ thuộc trên bán thực nghiệm (có điều điều khiển lệ thuộc trên số liệu)

Phương pháp này kết hợp giữa phương pháp thăng bằng limited và phối hợp điều điều chỉnh số liệu – thông số theo thực nghiệm bao gồm những tác giả kinh điển: Meyerhof,Versíc,Terzaghi: hiện nay ít còn được áp dụng.

Dựa vào trên mô hình nền (đường cong t-z)

Sẽ có khả năng thử nghiệm các mô hình khác biệt, sẽ có khả năng sử dụng trong thách thức mô hình hóa sự làm việc cùng khoảng thời gian của cọc-đài-công trình.

Dựa vào trên trực tiếp kết quả thí nghiệm xuyên chuẩn SPT

Phương pháp này đã được bung vào một vài số tiêu chuẩn, có cả của việt nam: Meyerhof, Công thức Shioi và Fukui (các tác giả Nhật Bản): Được trên thực tế xác thực, dùng đa dạng.

Dựa trên trên sự truyền sóng (động)

Phương pháp này ứng dụng ở phép thử cho cọc đóng, Liên quan đến dựng mô hình tính tương tác nền cọc bê tông và cần nhiều phép đo gia tốc và suất biến dạng động nên rõ nét phiền toái hơn nhiều phương pháp khác. (Xem thêm thử nghiệm biến dạng lớn (PDA), thí nghiệm biến dạng nhỏ (PIT))

Phương pháp hiện trường (dựa trên các thử nghiệm hiện trường): Phương pháp này dùng kết quả là SPT hoặc CPT và chỉ dùng cho đất rời.